|
Phương pháp xư lý sinh học rác thải và nước thải |
|
|
|
|
Viết bởi Administrator
|
|
Thứ bảy, 11 Tháng 7 2009 03:06 |
. Phương pháp xử lý sinh học:- Là phương pháp tiên tiến và hiện đại hiện nay trên thế giới.- Không gây ô nhiễm môi trường; Tiêu diệt được các loại vi khuẩn và vi sinh vật gây bệnh.- Chi phí đầu tư thấp, tiêu hao năng lượng thấp, hiệu quả cao.- Đơn giản, dễ vận hành.- Sản phẩm là phân hữu cơ sạch.- Rất thích hợp với các loại rác thải rắn của nghành Công nghiệp Thực phẩm.Sơ đồ nguyên lý một hệ thống xử lý rác thải bằng vi sinh như sau: San lấp Rác thô Tái chế Kim loại, thuỷ tinh Rác thải nguồn gốc đá sỏi Phân loại thực vật, Kích thước lớn chất thải sinh hoạt Rác hữu cơ Rác vô cơ, Polymer Bể chứa khử mùi Nghiền, trộn Tái chế ủ, sục khí ( 21 ngày ) Chôn lấp ủ chín ( 28 ngày ) Phân loại Bã vô cơ kích thước lớn Bã vô cơ Phân loại tinh Trộn phụ gia (N, P, K...) San lấp Đóng bao Kho thành phẩm Hình 1 : Sơ đồ nguyên lý một dây chuyền chế biến rác bằng sinh học Mô tả Công nghệ: Rác thải được thu gom và chở đến khu tập trung rác. Gầu xúc rác từ khu tập trung đến trạm cấp liệu rồi rải đều xuống thiết bị phân loại ( thường là loại băng tải ). Tại đây, rác thải được phân thành:- Các loại đá, sỏi, kim loại, thuỷ tinh , một phần được quay lại cho tái chế, phần còn lại đem đi chôn lấp.- Các loại rác thải có nguồn gốc thực vật ( cành, mẫu xelluloz v.v. ) đưa đi ủ sục khí.- Rác vô cơ, các phần bao bì bằng Polymer được đem đi tái chế.- Rác hữu cơ được đưa đến thiết bị trộn, nghiền rồi vào thiết bị ủ sục khí 21 ngày, cùng với chất thỉa sinh hoạt tử bề chứa khử mùi.- Sau 21 ngày ủ, hỗn hợp rác thải được đưa qua thiết bị ủ chín 28 ngày rồi qua sàng phân loại. Tại đây:+ Phần bã vô cơ có kích thước lớn được phân loại và đưa đi chôn lấp.+ Phần còn lại qua thiết bị phân loại tinh loại bỏ nốt phần bã vô cơ đem đi chôn lấp. Sản phẩm còn lại được trộn thêm cac loại phụ gia ( phân N, P, K chẳng hạn ) thành phân bón vi sinh, qua đóng bao rồi vào kho thành phẩm.Kết thúc quá trình xử lý rác thải bằng vi sinh vật. Các yêu cầu công nghệ: - Công trình được thiết kế dạng mở, có thể thực hiện đồng bộ một lúc hoặc từng bước nhiều công việc và có tính đến khả năng mở rộng.- Thuận tiện giao thông, gần vành đai các khu sản xuất.- Gần nguồn điện, nước.- Kết cấu công trình là nhà có mái che, khung nhà chắc chắn.- Có khả năng mở rộng công suất lên 2 - 2,5 lần.Công suất thiết kế thường là 27.000 đến 30.000 tấn.năm. Nước thải Hố ga+ song chắn rác Bể tập trung Nước thải Hoá chất 1 P Hoá chất 2 Điều chỉnh pH Máy ép bùn Thiết bị lọc sinh học Máy thổi khí Bể Aerôten Chất keo tụ Trợ keo tụ Lắng cấp 1 Lắng cấp 2 Khử trùng HC khử trùng Thải Hình 2. Mô hình xử lý nước thải bằng phương pháp sinh – hóa Các thiết bị đầu tư: 1 - Bể thu gom và tập trung nước thải kèm hệ thống khuấy chống lắngP1 - Bơm nước thải, loại bơm chuyên dụng.2 - Thiết bị tự động điều cỉnh pHH1 - Bể chuẩn bị hoá chất kèm bơm định lượng và Sensor điều khiển.3 - Thiết bị lọc sinh học cao tải.4 - Thiết bị Aêroten,5 - Thiết bị lắng cấp 1,6 - Thiết bị lắng cấp 2,7 - Thiết bị làm khô bùn,8 - Thiết bị thổi khí.9 - Thiết bị chuẩn bị hoá chất cho xử lý, kèm môtơ cánh khuấy và bơm định lượng.10 - Thiết bị chuẩn bị hoá chất cho khử trùng kèm bơm định lượng.11 - Các bơm bùn,12 - Đường ống và phụ kiện các loại13 - Hệ thống điện và điện điều khiển.14 - Kho chứa hoá chất, nhà điều hành và vận hành hệ thống.Nguyên lý làm việc:Nước thải theo kênh dẫn nước thải bẩn về bể thu gom và tập trung nước thải số. Tại đây, nước thải hỗn hợp hoà trộn với nhau rồi được bơm lên bể điều chỉnh pH. Hoá chất cho điều chỉnh pH (kiềm hoặc axít tuỳ theo pH của nước thải) được cấp tự động từ các bể hoá chất tương ứng bằng bơm định lượng.Tại bể điều chỉnh pH sẽ xẩy ra các quá trình:- Phản ứng trung hoà của NaOH với H+ trong nước ( nếu nước thải có pH < 7 )- Phứng ứng trung hoà của Axít với OH- nếu ( nếu nước thải có pH > 7 )Đưa pH về theo yêu cầu ( pH ~ 6,5 là thuận lợi cho quá trình lọc sinh học )Tại thiết bị lọc sinh học sẽ xấy ra các phản ứng theo mô hình: V, VG pha khí q dpCO2/dt = -pTDV/VG – pCO2Q/VG pT, D Q = QCO2 + QCH4, QCO2 = DVTG pCO2 PCO2 TG QCH4 Pha lỏng HS = ( H+ )( S )/Ka ; H+ = K1(CO2)0/(HCO3-) Z0 (HCO3-) = ( Z ) - ( S ); dZ1/dt = (F/V)(Z0 - Z1 ) Z1 (HCO3-)0 TG = KL0[ (CO2)0* - CO2)0] (HCO3-)1 (CO2)D0 (CO2)0* = K PCO2 (CO2)D1 F, V d(CO2)D1/dt = (F/V)[(CO2)00 - (CO2)01] + TG + RB + RC H+ Ka, KS, Kl, KL0 RC = (F/V) [ (HCO3-)0 - (HCO3-)1] + dS1/dt - dZ1/dt HS S RB QCH4 Pha sinh học X0 dX1/dt = (F/V)(X0 – X1 ) + mX1 X1 S0 dS1/dt = (F/V)(S0 – S1 ) - mX1/YX/S Y S1 m, KS, Kl m = mmax/( 1 + KS/HS + HS/Kl ) F, V, D RB = YCO2/X mX1; QCH4 = D V YCH4/X m X1 Hình 3: Tổng quát mô hình toán học biểu diễn các dòng trong thiết bị lọc sinh họcNhờ hoạt động của các vi sinh vật bám trên các giá thể ( tấm vật liệu lọc sinh học - dạng tấm đệm nhựa PE/PS với bề mặt riêng đạt 300 - 600 m2/m3 ), các chất bẩn trong nước được chuyển hoá thành các chất khí và các chất có thể tách loại được bằng các hoá chất khác. Sản phẩm khí chủ yếu của quá trình lọc sinh học thường là CO2, khí Mêthan (CH4) và đôi khi cả khí Amôniắc (NH3) v.v.Trong quá trình hoạt động, các vi sinh vật sẽ sinh trưởng và phát triển thành khối bám vào bề mặt giá thể. Khối vi sinh vật này khi đủ độ lớn, một phần sẽ bị nước cuốn trôi sang bể làm thoáng sau lọc sinh học, một phần sẽ rụng xuống đáy bể lọc sinh học nhờ trọng lực và sẽ được bơm định kỳ về bể chứa bùn thải.Nước thải sau bể lọc sinh học qua bể làm thoáng, không khí được cấp từ các máy thổi khí. Tại bể làm thoáng tiếp tục xẩy ra các quá trình:- Làm bay hơi các chất khí dễ bay hơi khỏi nước thải.- Ôxy hoá/Khử tiếp tục các chất hữu cơ thành các chất dạng khí thoát ra ngoài và các chất dễ tách loại được bằng chất keo tụ.Bùn sinh học tại bể làm thoáng sau lọc sinh học thường không cần phải sử dụng dạng bùn tuần hoàn mà là bùn của quá tình lọc sinh học được nước thải cuốn trôi sang bể làm thoáng.Sau thiết bị làm thoáng, nước thải được trộn hoá chất rồi qua bể lắng cấp 1. Hoá chất sử dụng cho công đoạn này là phèn Nhôm và chất trợ lắng. Tại đây xẩy ra các phản ứng thuỷ phân: Al+3 + 2H2O Al(OH)3 + H+. Chất trợ keo tụ sử dụng là ACCOFLOC giúp cho bông cặn Al(OH)3 có kích thước lớn hơn và lắng xuống dưới kéo theo các chất bẩn lơ lửng trong nước. Đặc tính chung của chất trợ keo tụ dạng ACCOFLOC được thẻ hiện như sau:ACCOFLOC là các chất keo tụ có trọng lượng phân tử cao, có khả năng thúc đẩy sự kết tủa bằng cách trung hoà các điện tích bề mặt của các hạt cặn trong nước và khuấy đảo từng hạt một. Sau đó các hạt này lại hấp thụ với nhau nhờ các nhóm chức năng kích hoạt tạo thành các chất kết tủa lớn hơn và lắng xuống hoặc nổi lên trên. ACCOFLOC hiện có hơn 100 sản phẩm và được phân thành 03 loại chính, đó là các loại Cation - phân ly tạo các cation; Các Anion - phân ly tạo Anion và Nonion - Không phân ly. Các ACCOFLOC ngày nay được sử dụng rất nhiều trong tất cả các ngành kinh tế, về cơ bản chúng có công thức tổng quát sau: R - Các Cation: CH2 _ CH CH2 _ C C =O C=O CH3 NH2 m O- C2H4-N - RX- CH3 n p. R - Các Anion: CH2 _ CH CH2C C=O C=O NH2 m O- - Na+ n p - Các Nonion: CH2 - CH C =O NH2 m Ngoài ra, các ACCOFLOC loại Anion luôn mang điện tích bề mặt âm nên chúng sẽ hấp thụ các Ion mang điện tích dương trong nước tạo ra một thế cân bằng về điện theo sơ đồ: + Cation Cation + Bông cặn Anion + Cation Cation + Như vậy, các bông cặn Anion sẽ hút các phần tử mang điện tích dương (các phần tử nhỏ lơ lửng trong nước thường mang điện tích dương) về mình nhằm đảm bảo cho dung dịch luôn tồn tại một cân bằng điện tích: điện tích + Û điện tích -và cùng với lực hút tĩnh điện cũng như lực Val Dec Val sẽ tạo nên các bông cặn to hơn và dễ dàng lắng xuống dưới nhờ trọng lực. Chính vì vậy, chất trợ lắng ACCOFLOC dạng Anion được sử dụng rất rộng rãi cho xử lý nước thải.Các ACCOFLOC này thường được sử dụng ở dạng nồng độ 0,1% ( với các Anion & non Ion ); 0,2% ( với các Cation ) trong nước cùng với chất keo tụ với tiêu hao các ACCOFLOC cho xử lý nước thải là 1 - 15 ppm tuỳ từng loại nước thải.Bùn lắng xuống dưới đáy bể lắng và được bơm định kỳ về bể ép bùn, nước sau lắng được bổ sung hoá chất rồi qua bể lắng cấp 2. Tại bể lắng cấp 2, quá trình xẩy ra tương tự bể lắng cấp 1.Nước thải sau lắng tách bùn được chuyển qua bể khử trùng bằng Giavel hoặc Clorin. Tại đây sẽ xẩy ra các phản ứng:Giavel/ Clorin (NaCl/NaClO ) + H2O NaCl + Cl. + NaOHCl. Nguyên tử hình thành sẽ có tác dụng diệt khuẩn trong nước.Nước sau khử trùng được thải ra ngoài.Thông thường, nước được khử trùng bằng cách bơm trực tiếp dung dịch diệt khuẩn vào dòng nước và nhờ quá trình chảy rối, chất diệt trùng sẽ lan toả đều trong dòng nước. Trong hệ thống thiết bị của dây chuyền sẽ không sử dụng phương án bơm trực tiếp nước khử trùng vào dòng chảy mà bơm vào một bể trộn trung gian. Vai trò chính của bể trộn trong hệ thống này là bể trung gian nhằm kiểm soát hiệu quả hoạt động của hệ thống lọc sinh học - aeroten - lắng thông qua lấy mẫu kiểm tra tại bể trung gian này.Bùn từ thiết bị lọc sinh học, Aêroten, lắng được bơm bùn bơm định kỳ về khu làm khô bùn. Hệ thống thiết bị làm khô bùn là loại máy lọc ép. Nước tách từ bùn theo kênh dẫn quay trở lại bể lọc sinh học, bùn khô ( 38 - 45%) được đổ vào khu vực chứa riêng hoặc sử dụng làm phân vi sinh.Trường hợp xẩy ra sự cố, khi mà các thiết bị trong hệ thống xử lý không hoạt động được, nước thải sẽ được bơm thải tạm thời.Việc tính toán thiết bị phụ thuộc vào điều kiện cụ thể của từng đơn vị. |
|
Thông tin tuyển nhân viên marketing |
|
|
|
|
Viết bởi Phan Tuan
|
|
Thứ sáu, 10 Tháng 7 2009 07:12 |
|
Công ty chúng tôi hiện đang có nhu cầu tuyển dụng nhân viên marketing Chi tiết xin liên hệ : Anh Mạnh Điện thoại: 0963182607 |
|
9.000 dân mới có 1 cán bộ môi trường |
|
|
|
|
Viết bởi Administrator
|
|
Thứ sáu, 10 Tháng 7 2009 06:58 |
| | | | Theo thông tin từ Bộ Tài nguyên và Môi trường, Luật Bảo vệ môi trường đã ra đời hơn một chục năm, với mạng lưới Chi cục Bảo vệ môi trường đến cấp địa phương, nhưng hiện nay 9.000 dân mới có 1 cán bộ môi trường. Đầu tháng 7-2009 vừa qua, Luật Đa dạng sinh học (ĐDSH) cũng chính thức có hiệu lực, thống nhất những quy định liên quan đến ĐDSH như khu bảo tồn thiên nhiên, ưu tiên bảo vệ động vật hoang dã; đánh giá, lưu giữ, bảo quản nguồn gen và cơ sở dữ liệu về nguồn gen... Tuy nhiên, với chỉ 1 cán bộ môi trường trên 9.000 dân, việc ngăn chặn sự suy giảm mạnh mẽ của các loài, sự cạn kiệt và thất thoát nguồn gen động vật hoang dã sẽ hết sức khó khăn nếu chúng ta không tập trung vào công tác đào tạo cán bộ môi trường có tâm huyết và năng lực thực sự. K.Mạnh | Nguồn: Báo Sài gòn giải phóng online |
|
LAST_UPDATED2 |
|
THÔNG TƯQuy định chi tiết về lập, phê duyệt, kiểm tra, xác nhận Dự án cải tạo, phục hồi môi trường và ký quỹ cải tạo, phục hồi môi trường đối với hoạt động khai thác khoáng sản |
|
|
|
|
Viết bởi Administrator
|
|
Thứ ba, 16 Tháng 6 2009 09:08 |
|
Thông tư này quy định chi tiết thi hành một số điều của Quyết định số 71/2008/QĐ-TTg ngày 29 tháng 5 năm 2008 của Thủ tướng Chính phủ về ký quỹ cải tạo, phục hồi môi trường đối với hoạt động khai thác khoáng sản (sau đây gọi là Quyết định số 71/2008/QĐ-TTg), bao gồm: 1. Lập, thẩm định, phê duyệt Dự án cải tạo, phục hồi môi trường, Dự án cải tạo, phục hồi môi trường bổ sung, Báo cáo bổ sung kinh phí ký quỹ và ký quỹ cải tạo phục hồi môi trường đối với hoạt động khai thác khoáng sản; kiểm tra và xác nhận việc thực hiện các nội dung của Dự án cải tạo, phục hồi môi trường, Dự án cải tạo, phục hồi môi trường bổ sung và yêu cầu của quyết định phê duyệt. (ĐÂY LÀ BẢN DỰ THẢO GẦN NHƯ LÀ CUỐI CÙNG, TRƯỚC KHI TRÌNH VÀ ĐƯỢC PHÊ DUYỆT) THÔNG TIN ĐẦY DỦ XIN XEM PHẦN DOWNLOAD CỦA WWW.TRANGNGUYENVN.COM |
|
LAST_UPDATED2 |
|
|